Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Hai điều tra viên bị ghi sổ đen - vụ ông Huỳnh Văn Nén.

Người bị tù oan 17 năm tố cáo điều tra viên dùng nhục hình, ép cung

Gia đình ông Huỳnh Văn Nén đã xác nhận với báo chí vào ngày 21/01 là Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã thụ lý đơn tố cáo của ông Nén và một số thành viên trong gia đình, liên quan đến hai vụ án oan.

Ông Huỳnh Văn Nén khóc trong ngày cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Thuận tổ chức xin lỗi. (Ảnh: Zing.vn)

Trước đó, ông Nén cùng những người khác trong gia đình sau khi được minh oan, đã đồng lòng gửi đơn lên các cơ quan có trách nhiệm, đòi phải xử trị những điều tra viên, dựa vào quyền lực, dùng nhục hình gây oan sai, bắt ông phải ngồi tù 17 năm.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Tin về Long An xử tù thiếu niên Thạnh hoá .

PHONG TRÀO LIÊN ĐỚI DÂN OAN TRANH ĐẤU

Thông Tin Công luận

XỬ NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN LẦN 2 VÀO LÚC 7 GIỜ 30 NGÀY 1-2-2016 TẠI THẠNH HÓA - LONG AN

Kính thưa Đồng Bào và các Thân Hữu trong ngoài nước

Phong Trào chúng tôi vừa được cháu Nguyễn Mai Thảo Vy là em gái của Dân oan thiếu niên 15 tuổi Nguyễn Mai Trung Tuấn thông tin cho biết về phiên xử Tuấn sắp tới.
Xin Đồng bào và các Thân hữu mở xem ảnh chụp của thông báo của “tòa án nhân dân tỉnh Long An” được đăng kèm theo đây để biết rõ hơn.

Lời lẽ trong bản văn này đọc nghe rất khác lạ, mở đầu là “Tòa án nhân dân tỉnh Long An TRÂN TRỌNG thông báo”, rồi kết thúc là: “Nay toà án nhân dân tỉnh Long An thông báo đến toàn thể mọi người đến tham dự phiên toà nêu trên.”

Bắc Giang - nghi án công an thủ tiêu dân từ 10 năm nay !


LĐĐS - 02 NGUYỄN KHANG -   19/01/2016




Chân dung ông Nguyễn Văn Triển trước khi bị mất tích.
Hơn 10 năm, Nguyễn Văn Triển (SN 1968, trú tại xã Tân An cũ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang) không hiểu vì lý do gì đã mất tích một cách bí ẩn sau lần được mời lên trụ sở cơ quan công an để làm việc. Sau lần làm việc đó, ông Triển không thấy trở về nhà mặc dù gia đình và người thân liên tục tìm kiếm hơn 10 năm trời.

Bỗng dưng mất tích bí ẩn

Câu chuyện lạ lùng này xảy ra tại nhà bà Ngụy Thị Vuông (45 tuổi, trú tại tổ dân phố Khôi, thị trấn Tân Dân, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang). Người mất tích là chồng bà - ông Nguyễn Văn Triển. Hơn 10 năm qua, bà cùng gia đình đã mất bao công sức tìm kiếm chồng và cha, nhưng vẫn không ra tung tích của ông Triển.

Bà Vuông cũng làm nhiều đơn cầu cứu cơ quan chức năng nhưng không có kết quả. Theo phản ánh của bà Vuông, ông Nguyễn Văn Triển được Công an huyện Yên Dũng “mời” đến làm việc từ năm 2005 vì cho rằng ông Triển là người biết sự việc về vụ trộm cắp tại một công ty đóng trên địa bàn huyện Yên Dũng. Tuy nhiên, sau lần mời đi làm việc này, ông Triển đã “mất tích” một cách bí ẩn. Mặc dù đã gần 11 năm trôi qua, gia đình không hề có bất kỳ tin tức nào của ông Triển.

Theo bà Vuông kể lại, vào sáng 31.5.2005 (ngày Chủ nhật - PV), ông Ngụy Văn Triển sang nhà anh Nguyễn Văn Hoàn (SN 1977, là hàng xóm) ngồi chơi. Tại đây, ông Triển bị hai người đàn ông xưng danh là Công an huyện Yên Dũng bắt và áp giải ông Triển đến trụ sở UBND xã Tân An (trụ sở cũ - PV) để làm việc.

Sự việc ông Triển được hai người xưng là Công an huyện Yên Dũng mời lên làm việc có anh Nguyễn Viết Hoàn là nhân chứng. Anh Hoàn còn nhớ rất rõ: “Vào sáng hôm đó, tôi ở nhà thì anh Triển lên chơi. Hai người ngồi trong nhà uống nước, ngồi được khoảng 30 phút thì có hai người đi xe máy vào nhà tôi và hỏi: “Anh có phải anh Triển không?”, anh Triển trả lời là “Phải”. Hai người họ xưng là công an rồi dẫn anh Triển ra xe, anh Triển ngồi giữa. Từ ngày đó đến nay, tôi không nghe bất kỳ tin tức nào về anh Triển nữa”.

Vài ngày sau, không thấy chồng mình về nhà, bà Vuông mới đi tìm chồng. “Chồng tôi làm việc xa nhà. Thời đó, nhà tôi không có xe máy, đi làm phải nhờ người ta, lại không có điện thoại, nên không liên lạc được. Chồng đi mấy ngày, tôi cũng chỉ nghĩ rằng do ông ấy bận việc không về. Thấy mấy ngày không về, tôi chạy sang hỏi anh Hoàn, vì anh này thời gian đó cũng làm cùng với chồng tôi, thì mới ngã ngửa người ra khi được biết là chồng mình bị công an bắt đi trước đó 3 ngày rồi. Vậy mà không hề có tung tích gì. Sốt ruột quá, tôi mới sang công an huyện để hỏi xem chồng tôi ở đâu. Nhưng chỉ nhận được câu trả lời chung chung là “đã làm việc xong và thả ông Triển về”, bà Vuông nhớ lại.

Sau khi bà Vuông đi hỏi và gửi đơn đến các cấp chính quyền, thì gần 1 năm sau kể từ ngày chồng bà “mất tích” sau lần “mời” đi làm việc của Công an huyện Yên Dũng, bà Vuông mới nhận được câu trả lời. Tại phiếu trả lời đơn số 163/CAYD, ngày 10.5.2006, Công an huyện Yên Dũng cho biết, tháng 5.2005, tại nhà máy giấy Xương Giang (ở xã Song Khê, huyện Yên Dũng) xảy ra vụ mất trộm 2.200kg sắt. Qua xác minh, thấy anh Nguyễn Văn Triển có khả năng biết sự việc trên, công an huyện đã cử 3 đồng chí gồm: Nguyễn Xuân Tín, Nguyễn Ngọc Toàn và Thân Văn Quân là cán bộ Công an huyện Yên Dũng trực tiếp về thôn Khôi, xã Tân An (nay là tổ dân phố Khôi, thị trấn Tân Dân - PV) để làm việc.

Khoảng 9h ngày 31.5.2005, ông Triển cùng với các đồng chí được cử đi làm nhiệm vụ đã về UBND xã Tân An, tuy nhiên, do hôm đó là ngày nghỉ nên ủy ban xã không mở cửa. Vì không làm việc được nên họ đã cho anh Triển về nhà ngay buổi trưa hôm 31.5.2005. Công an huyện Yên Dũng không bắt giam, giữ ông Nguyễn Văn Triển bất cứ thời gian nào.

Nhiều điểm bất thường cần được làm rõ

Câu trả lời của Công an huyện Yên Dũng không làm gia đình bà Vuông hài lòng vì nhận thấy có những điểm bất thường. Bà Ngụy Thị Vuông cho biết: “Mặc dù chồng tôi có liên quan hay là biết sự việc ăn trộm ăn cắp đi chăng nữa thì khi làm việc Công an huyện Yên Dũng cũng phải làm cho đúng luật. Nếu nghi chồng tôi là tội phạm, tại sao không gửi giấy triệu tập hoặc giấy mời để chồng tôi tự lên trình báo với cơ quan chức năng, đằng này lại về nhà tôi để “rình mò”, gia đình tôi không ai hay biết. Tôi lên hỏi nhiều lần thì không thấy trả lời. Đến khi tôi làm đơn gửi ra Công an tỉnh Bắc Giang, họ mới có giấy trả lời gia đình chúng tôi. Hôm đó, nếu không có anh Hoàn làm chứng thì có lẽ cũng không ai biết được chồng tôi bị ai bắt hay mất tích vì lý do gì”.

Cũng theo bà Vuông nhận định, việc Công an huyện Yên Dũng cử người đi làm việc thì không lẽ nào lại không biết rằng ngày 31.5.2005 không phải là ngày chủ nhật. Nếu như đã biết là ngày chủ nhật thì tại sao vẫn cố đưa ông Triển đi rồi lấy lý do “UBND xã Tân An, không có người trực rồi cho về. Và tại sao nghi ông Triển là người biết về sự việc trộm cắp xảy ra tại nhà máy giấy Xương Giang khi chưa làm việc được với ông Triển mà lại không mời ông lên để tiếp tục làm rõ sự việc”. Bà Vuông và gia đình sau đó chỉ còn biết đoán già đoán non: “Có thể chồng tôi sau lần mời lên làm việc này đã gặp sự cố gì đó, chính vì vậy mà không còn cơ hội để trở về nhà”, bà Vuông cho biết.

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Đình Nhu - nguyên Chủ tịch UBND xã Tân An cũ - cho biết: “Hôm đó là ngày chủ nhật, cả xã đi hội diễn ở bên huyện Yên Dũng. Còn việc có thông báo cho chính quyền địa phương hay không thì tôi không được biết. Mấy ngày sau, người nhà anh Triển lên hỏi tôi thì tôi mới biết sự việc. Sau đó, tôi có gọi điện cho anh Nguyễn Xuân Tín là Công an huyện Yên Dũng thì được anh ấy cho biết: “Hôm đó có gọi anh Triển lên làm việc, sau khi hỏi vài câu, lấy lời khai, lập biên bản xong thì cho về”. Tôi cũng chỉ nhận được câu trả lời như vậy”.

Sau lần mất tích ấy, gia đình bà Vuông cũng có nghĩ tới trường hợp ông Triển bỏ nhà đi làm ăn xa. Nhưng khi dò hỏi tất cả các mối quan hệ quen biết, họ vẫn không tìm ra tung tích của ông. “Khi chồng tôi bị công an huyện bắt đi, trên người duy nhất chỉ có bộ quần áo. Cuộc sống hai vợ chồng tôi tuy vất vả, nhưng vẫn êm ấm, gia đình thuận hòa, chưa bao giờ xảy ra to tiếng cãi vã. Vợ chồng tôi có 2 người con trai đều mạnh khỏe, học tập giỏi giang, ngoan ngoãn, lại còn có bố mẹ già cần chăm sóc, không lẽ nào chồng tôi bỏ đi lại không có một lời từ biệt như vậy. Từ ngày chồng tôi mất tích một cách đầy bí ẩn, gánh nặng gia đình đè nặng lên đôi vai tôi, khó khăn gấp trăm bề. Ngày nào, tôi cũng hy vọng chồng tôi trở về, nhưng càng chờ đợi, tôi lại càng thêm thất vọng”.

“Hiện tại, gia đình tôi chỉ biết làm đơn kêu cứu các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Hy vọng rằng, bằng sự liêm chính, công minh sẽ tìm được ra manh mối về chồng tôi”, bà Vuông tâm sự.

Ông Hà Đình Lương - tổ trưởng tổ dân phố Khôi, thị trấn Tân Dân - cho biết: “Ở địa phương cũng có biết việc ông Nguyễn Văn Triển được Công an huyện Yên Dũng “mời” đi làm việc và từ đó mất tích. Từ năm 2005 đến nay, ông Triển không thấy xuất hiện ở địa phương. Gia đình và chính quyền địa phương cũng đi dò hỏi ở nhiều nơi, nhưng vẫn không có tung tích gì, hiện tại không biết rõ sống chết ra sao.

Trao đổi với PV, đại úy Nguyễn Trọng Chiến - Trưởng đồn Công an Tân Dân, huyện Yên Dũng - cho biết: “Vụ việc này xảy ra đã nhiều năm, những cán bộ thụ lý vụ việc đã có người chuyển công tác nên cần thêm thời gian để tìm hiểu. Hiện tại, chúng tôi cần báo cáo lãnh đạo huyện, xem lại hồ sơ vụ việc thì mới có câu trả lời thoả đáng tới người dân”.
Nguyên Khang

4000 công nhân Biên hoà đình công chào mừng đại hội đảng !

4000 công nhân 'đình công' phản đối tăng lương chưa thỏa đáng
Người Đưa Tin 21/01/2016 20:06 .
Khoảng 4.000 công nhân Cty sợi Tainan Việt Nam (KCN Biên Hòa 2, Biên Hòa, Đồng Nai) lại ngưng công việc để đòi quyền lợi vì cho rằng Công ty tăng lương chưa thỏa đáng.
Chiều ngày 21/1 ông Nguyễn Văn Thắng – Chủ tịch Công đoàn các KCN tỉnh Đồng Nai vừa cho biết, hiện tại nhiều cơ quan ban ngành trong tỉnh vẫn đang cố gắng làm việc với công ty Tainan Việt Nam để giải quyết quyền lợi cho nhiều công nhân của công ty này. Hiện tại nhiều công nhân công ty này vẫn ngưng làm việc vì cho rằng đã bị hạn chế về quyền lợi tại công ty.


Sau 20 ngày, công nhân vẫn tiếp tục ngưng công việc.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Cộng sản là lũ mọi rợ, vong ân bội nghĩa !

LỄ TƯỞNG NIỆM 75 TỬ SỸ HOÀNG SA
(Tại Sài Gòn)

Sáng nay, ngày 19/1/2016 tại Sài Gòn, Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng tổ chức buổi lễ tưởng niệm 75 anh hùng chiến sỹ đã ngã xuống trong cuộc chiến với Trung Quốc xâm lược nhằm bảo vệ quần đảo Hoàng Sa-Việt Nam ngày 19/1/1974 tại tượng đài Trần Hưng Đạo, quận 1, Sài Gòn.

Rất nhiều nhân sĩ trí thức, anh em hoạt động xã hội dân sự bị canh, chặn từ nhà không đến được nhưng buổi tưởng niệm vẫn có khoảng 40 người gồm các cô chú CLB Lê Hiếu Đằng, các hội nhóm xã hội dân sự và người dân tham gia.

Từ 8:00 xe bồn xịt nước đã được đưa tới tập kết dưới chân tượng đài. 40-50 "công nhân vệ sinh" liên tục xịt nước và quét dọn cho đến 9:00 vẫn không quét dọn xong khuôn viên tượng đài vài trăm mét vuông.

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

Chỉ Việt nam Cộng hoà đủ tư cách đòi lai Hoàng sa !

Chỉ có VNCH mới có đủ tư cách pháp lý để tố cáo, đòi lại Hoàng Sa trước quốc tế.
----------------------------------------------

VNCH khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, TQ từng im re!

VNCH khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, TQ từng im re!
Theo Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Đà Nẵng Lưu Anh Rô, năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa từng suýt đưa được Trung Quốc ra Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc vì cưỡng chiếm trái phép Hoàng Sa.

Như tin đã đưa, trong khuôn khổ chuỗi hoạt động tại Đà Nẵng nhằm ghi dấu 40 năm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép, chiều 19/1 sẽ diễn ra cuộc hội thảo quốc gia về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa do Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng chủ trì tổ chức.

Hiện Ban tổ chức hội thảo đã nhận được tham luận của nhiều học giả, nhà nghiên cứu có uy tín ở Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng chuyên nghiên cứu lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Một trong những vấn đề được nhiều tham luận quan tâm là vai trò của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) từ năm 1954 - 1975 trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

Tàu cá có trang bị vũ trang của Trung Quốc khiêu khích chiếm hạm của Hải quân VNCH tại đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 15/01/1974 (Ảnh tư liệu)

Trung Quốc từng im re trước khẳng định chủ quyền của Đệ nhất VNCH

Là thành viên tham gia đề tài nghiên cứu khoa học “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền VNCH (1954 – 1975)” do Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng chủ trì, thạc sĩ Lưu Anh Rô, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Đà Nẵng có bài tham luận rất đáng chú ý, dài 15 trang với tựa đề “Vụ Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam qua một số tư liệu lưu trữ (1954 – 1975).

Qua nghiên cứu nhiều văn bản thời ông Ngô Đình Diệm và các chính quyền kế tiếp sau đó do Văn phòng Phủ Thủ tướng và Văn phòng Phủ Tổng thống lưu lại, tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô nêu rõ, dưới thời Ngô Đình Diệm, việc ông ban hành nhiều sắc lệnh, nghị định về Hoàng Sa, nhất là những hoạt động kinh tế, quân sự tại đây như: cho khai thác phân chim, thành lập công ty khai thác tài nguyên ở Hoàng Sa tại Sài Gòn; xây dựng các cơ sở hạ tầng như nhà ở, cầu cảng, phân xưởng, nhà thủy văn; đưa lính ra bảo vệ và thay đổi các chức vụ Đảo trưởng… cho thấy tính liên tục của quá trình khai thác, bảo vệ của chính quyền VNCH đối với các quần đảo của Việt Nam, trong đó có Hoàng Sa.

Sau khi Hiệp định Geneve được ký kết vào năm 1954, việc chuyển giao quyền lực giữa quân đội Pháp và chính quyền Quốc gia Việt Nam (sau ngày 26/10/1956 là VNCH) đã để lại một khoảng trống trong việc bố phòng ở biển Đông. Lợi dụng sơ hở đó, một số nước đã lén lút cho quân đổ bộ chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền trước đó đều lên tiếng phản đối hành động chiếm cứ trái phép Hoàng Sa và Trường Sa của bất kỳ quốc gia nào; đồng thời không ngừng khẳng định các quần đảo này là của Việt Nam.

Đáng chú ý nhất, theo hai nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Diến và Nguyễn Hùng Cường trong bài tham luận chung có tựa đề “Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” là tuyên bố của ông Trần Văn Hữu (Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Quốc gia Việt Nam 1950 - 1952) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị Hòa bình ở San Francisco (Hoa Kỳ - 1951) với sự tham dự của 51 nước.

Tuyên bố này của ông Trần Văn Hữu không gặp bất cứ một sự phản kháng nào, kể cả Trung Quốc. Do vậy, tại hội nghị kể trên, khi có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì hội nghị đã bác bỏ với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng.

Đệ nhị VNCH tiếp tục khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa

Đầu những năm 1970, khi quan hệ giữa các nước lớn trên thế giới có nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp, Trung Quốc từng bước "phát tín hiệu" thân thiện với Mỹ, một sự thỏa hiệp ngấm ngầm của cả hai bên bắt đầu được khởi động thì các vấn đề liên quan đến tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa chính quyền VNCH và Trung Quốc cũng từng bước trở nên quyết liệt.

Trong xu thế đó, theo tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô, chính quyền VNCH đã liên tiếp ban hành các tuyên bố, công hàm, văn kiện ngoại giao… tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời phản đối những đòi hỏi vô lý của Trung Quốc.

Ngày 13/7/1971, Bộ truởng Ngoại giao VNCH Trần Văn Lắm có mặt tại Hội nghị lần thứ VI của Hiệp hội các Quốc gia châu Á-Thái Bình Dương ở Manila (Philippines) tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ông Lắm cũng nhắc lại lời tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cựu Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) năm 1951.

Tiếp đó, nhận thức được diễn biến của tình hình về tranh chấp trên biển Đông ngày càng phức tạp, ngày 15/7/1971, Nha Thông tin báo chí Bộ Ngoại giao đã ra Thông báo số 214/BNG/TTBC/TT về chủ quyền của VNCH trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Nội dung tuyên bố nếu rõ:

“Chánh phủ VNCH long trọng xác nhận lại một lần nữa chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa... VNCH là quốc gia duy nhất có chủ quyền hợp pháp trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vì đã thực hiện được các điều kiện ấn định trong Hiệp định năm 1885, liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Chánh phủ VNCH tuyên bố VNCH có chủ quyền hoàn toàn trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và bác bỏ tất cả các đòi hỏi của bất cứ một quốc gia nào về vấn đề này”.

Suýt đưa Trung Quốc ra Hội đồng Bảo an vì xâm chiếm Hoàng Sa

Ngày 20/1/1974, một ngày sau khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH đã gọi điện và gửi thư cho Chủ tịch Hội đồng Bảo an và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa. Hành động dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc đã vi phạm Điều 2 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Theo tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô, các nước như Liên Xô, Hà Lan, New Zealand, Indonesia…, các tổ chức quốc tế như Tổng Liên đoàn Lao động thế giới, các lực lượng thanh niên Italia, Hội đồng công dân Australia, Viện Nghiên cứu xã hội Australia, Ủy ban Đại học Australia bảo vệ Đông Dương,…đã lên tiếng phản đối hành động xâm lược lãnh thổ bằng vũ lực của Trung Quốc.

Cũng trong năm 1974, Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 3314 định nghĩa về hành vi xâm lược bằng vũ lực. Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc lúc này là Tiến sĩ Gonzalo Jr, Facio (cũng là Ngoại Trưởng Costarica), sau khi được VNCH thông báo nội tình và thể theo lời yêu cầu, đã mở một cuộc tham khảo sôi nổi vào ngày 25/1 và đề nghị đưa vụ Hoàng Sa vào nghị trình của Hội đồng Bảo an. Tuy nhiên việc triệu tập một phiên họp của Hội đồng Bảo an không thành vì Trung Quốc lúc đó đang là là hội viên thường trực, có quyền phủ quyết.

“Từ sự kiện này cho thấy, VNCH đã đạt được thắng lợi về mặt ngoại giao, khi Tiến sĩ Facio tuyên bố đáng lẽ Hội đồng Bảo an phải thảo luận vụ này, và ông cho biết riêng Costarica luôn hậu thuẫn cho VNCH” – Tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô nhấn mạnh.

Tiếp đó, ngày 21/1/1974, Bộ Ngoại giao VNCH đã gửi công hàm cho các thành viên ký kết định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam để tố cáo Trung Quốc xâm phạm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VNCH. Công hàm có đoạn: “Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang cố tình sử dụng võ lực như một phương tiện để chiếm thêm lãnh thổ, vi phạm trầm trọng các nguyên tắc thông thường của công pháp Quốc tế và Hiến chương Liên hiệp quốc và cũng vi phạm trầm trọng Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ký tại Paris ngày 27 tháng Giêng năm 1973 và Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam ký tại Paris, ngày 2 tháng Ba năm 1973”.

Tiếp tục khẳng định chủ quyền sau khi Hoàng Sa bị xâm chiếm

Tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô tiếp tục cho hay, ngay cả khi Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng trọn vẹn Hoàng Sa, để tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo này, ngày 21/6/1974, chính phủ VNCH đã có một bản tuyên cáo về tài nguyên thiên nhiên của quốc gia trong vùng biển và dưới đáy biển, trong đó nêu rõ:

“Chính phủ VNCH… có thẩm quyền và có sứ mạng bảo tồn đúng mức và khai thác hợp lý các tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, trong đó gồm có các tài nguyên ở trong vùng biển và dưới đáy biển tiếp cận với lãnh thổ VNCH, ngõ hầu gìn giữ tài sản quốc gia và mang lại lợi ích tối đa cho dân chúng….

Chính phủ VNCH cũng đã cho tiến hành nhiều cuộc khảo sát trên mặt biển và trong lòng đáy biển để ước định sự khả hữu và vị trí của các nguồn tài nguyên khoáng sản ở dưới đáy biển. Qua hai đợt đấu thầu năm 1973 và năm 1974, chính phủ VNCH đã cấp dữ quyền đặc nhượng tìm kiếm và khai thác dầu lửa trong thềm lục địa, cho một số công ty thuộc nhiều quốc tịch và có trình độ kỹ thuật cao. Công cuộc này có thể đem lại nhiều lợi ích lớn lao cho nhân dân miền Nam Việt Nam về các mặt phát hiện tài nguyên, huấn luyện nhân sự, đảm bảo cung cấp nhiên liệu và thu hoạch lợi tức…”.

Tham luận của thạc sĩ Lưu Anh Rô kết luận: “Như vậy, các văn kiện, tuyên bố và công hàm ngoại giao đã thể hiện mạnh mẽ ý chí chủ quyền của VNCH với quần đảo Hoàng Sa; khẳng định quyền bất khả xâm phạm của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Từ những tài liệu này, góp phần tạo cho dư luận thế giới, nhất là những cường quốc lúc bấy giờ hiểu sâu và rõ hơn về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này, đã tạo ra một luồng dư luận ủng hộ về tính chính nghĩa về chủ quyền, sự vô lý của Trung Quốc khi dùng vũ lực để cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam.

Từ các tài liệu trên cho thấy, cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc tại Hoàng Sa, hay nói đúng hơn, từ năm 1954 đến năm 1974, khi Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, do chính quyền VNCH đang trực tiếp cai quản, là một hành động phi pháp, trái hẳn với quy định của công pháp quốc tế. Thực tế đó cũng cho thấy, Hoàng Sa chưa bao giờ là của Trung Quốc; và nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử chưa bao giờ có ý định từ giã chủ quyền của mình đối với phần đất thiêng liêng này của Tổ quốc, dẫu cho đất nước đã trải qua bao bước thịnh suy, thăng trầm; bao nhiêu triều đại, chính quyền kế tiếp… trực tiếp cai quản Hoàng Sa và Trường Sa”.

HẢI CHÂU (lược thuật)

Theo infonet.vn

Giặc cái quản giáo Hà thị Liên đã bị ghi sổ !

TNLT HỒ THỊ BÍCH KHƯƠNG: CỘNG SẢN MUỐN ĐẨY TÔI VÀO CHỖ CHẾT! #GNsP: “Họ muốn tôi chết. Tôi muốn sống như mọi người nhưng cộng sản đã đẩy tôi vào đường cùng” là lời thừa nhận chua cay mà tù nhân chính trị Hồ Thị Bích Khương phải thốt lên sau khi ra khỏi nhà tù chế độ.

Tù nhân chính trị Hồ Thị Bích Khương vừa mới ra tù ngày hôm qua 15/01/2016 đã có cuộc trò chuyện với chúng tôi về tình trạng lao tù và những bất công, cơ cực mà bà phải trải qua.

Bà Bích Khương đã nhiều lần bị đánh đập, trù dập và lăng mạ khi còn ở trong các nhà tù của chế độ. Bà đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối tình trạng lao tù tồi tệ và việc chà đạp quyền lợi của các cán bộ trại giam.

“Vừa mở cửa ra, quản tù đã đạp mạnh vào tôi, làm tôi ngã ngửa ra bục nhà. Vừa đạp Hà Thị Liên vừa nói: Mày có kêu, có gào, có đòi hỏi nữa không. Đến giờ phút này thì tao có đánh chết mày cũng không ai để ý đến mày nữa.” TNLT Bích Khương ngậm ngùi nhớ lại những lời nói chua cay và cú đạp như trời giáng của quản giáo Hà Thị Liên vào người bà.

Bà cho biết: “Lần đó tôi đang tuyệt thực để đòi quyền lợi và phản đối trại giam tước đoạt quyền lợi của tù nhân. Đến ngày thứ 10 thì họ quyết định sẽ chuyển tôi đi biệt giam. Có lẽ là do cấp trên đã quyết định rồi nên mấy đứa quản giáo bên dưới tranh thủ làm càn.”

Đó chỉ là một trong ít lần người tù can đảm này bị trù dập. Có lần bà còn bị đánh hội đồng và bị gẫy cả xương vai. Dù bị những sự phân biệt đối xử và cách hành xử độc ác đó nhưng nữ tù nhân này vẫn không im lặng trước sự phi nhân của nhà tù.